Thứ Tư, 23/09/2020

Phẩm chất của người Thẩm phán TAND

13/09/2020 07:05

Thẩm phán là người được Chủ tịch nước bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Ngoài kiến thức chuyên môn, người Thẩm phán cần phải đáp ứng được những chuẩn mực về tính độc lập, khoan dung, sự liêm chính, tận tụy trong từng công việc.

Với vai trò là trung tâm của hệ thống tư pháp, trong những năm qua TAND đã có nhiều đột phá, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong đó, có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ những người Thẩm phán.

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và Nhân dân yêu cầu các Thẩm phán phải thực hiện nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan, thượng tôn pháp luật, đòi hỏi các Thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức, thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp, thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thẩm phán phải “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”.

TANDTC đã ban hành Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán. Nội dung Bộ Quy tắc nhấn mạnh, Thẩm phán phải là người trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực. Đồng thời, Thẩm phán phải là tấm gương về độc lập, khách quan, công bằng, tận tụy và chỉ tuân theo pháp luật khi thi hành nhiệm vụ. Thẩm phán phải có tính độc lập; sự liêm chính; sự vô tư, khách quan; công bằng, bình đẳng; sự đúng mực; sự tận tụy và không chậm trễ; đồng thời phải là người có năng lực và sự chuyên cần.

Có thể thấy, sứ mệnh của thẩm phán rất cao quý, nhưng trọng trách rất nặng nề. Người thẩm phán là người tri thức; là người sử dụng pháp luật liên quan tới số phận con người, là người làm cho nhân dân tin vào pháp luật của nhà nước. Người thẩm phán có tố chất bình tĩnh, phán đoán nhanh, biết đặt câu hỏi vào tình huống bất ngờ, sơ hở của kẻ phạm tội, kết luận chính xác, chặt chẽ.

Là người tri thức, vì thế người thẩm phán phải làm gương cho nhân dân trong mọi việc, đó là: tác phong làm việc, thái độ ứng xử với dân dù họ là kẻ phạm tội; nghệ thuật ăn nói trong quá trình xét xử; thông qua người thẩm phán  người dân có niềm tin vào pháp luật của Nhà nước. Tác phong người thẩm phán  cần chuyên nghiệp: ăn mặc, đi đứng, nói năng, kỹ năng xét xử, thái độ lịch thiệp cần mẫn…Tất cả những yếu tố trên là văn hóa, tri thức của người thẩm phán .

tham-phan-toa-an-nhan-dan-w600-h400.jpg

Các Thẩm phán nhận quyết định bổ nhiệm ở TAND tỉnh An Giang

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có đức, có tài. Mọi tiêu chí đều quy về đức và tài. Vậy, đức người thẩm phán  cụ thể là đâu? Đó là quyết tâm bảo vệ công lý, nhìn nhận sự việc khách quan, toàn diện, có tác phong cách thức làm việc để người dân yên tâm tin tưởng rằng mọi quyền và lợi ích  của họ được pháp luật bảo vệ bình đẳng. Thông qua xét xử, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chuyển tải tới nhân dân cụ thể, rõ ràng và minh bạch hơn. Những hành vi tiêu cực không thể có trong những người thẩm phán, vì họ là CBCC nhân danh quyền lực nhà nước. Cùng với cơ quan tố tụng, người tham gia tố tụng làm cho vụ án tới chân lý khách quan, đó là: đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đức của người Thẩm phán thể hiện ở “tinh thần đoàn kết” như Bác Hồ dạy, nghĩa là công việc phải tinh thông,  nhanh, chính xác, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đức của người thẩm phán là vấn đề ở đời, làm người, tức là việc làm của người thẩm phán lưu lại rất lâu trong đời sống con người, có thể cả một đời người, qua xét xử người phạm tội có thể tốt lên, cũng có thể hỏng cả đời người.

Tài của người thẩm phán đó là: áp dụng pháp luật nhuần nhuyễn không cứng nhắc, không để lọt người lọt tội, không để oan sai, án bị cải sửa tới mức thấp nhất, tuyên án khiến người phạm tội phải tâm phục, được mọi người nể trọng. Người thẩm phán phải phụng công thủ pháp. Nghĩa là: góp phần thực hiện nguyên tắc Hiến định: quản lý nhà nước bằng pháp luật, theo pháp luật.

Trước tòa, người thẩm phán căn cứ vào pháp luật để xét xử công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song tính khoan dung người thẩm phán phải có tình thương người phạm tội. Đây là hai mặt của một vấn đề. Tội do kẻ phạm tội gây ra có khi là chủ động, có khi là bị động, có khi do tự mình, có khi do hoàn cảnh. Tội đến đâu phải chịu hình phạt đến đó. Thông qua người thẩm phán chân chính, bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa là dùng luật để cứu người, để ngăn ngừa, giáo dục là chủ yếu.

Tính khoan dung của người thẩm phán rất có lợi cho chế độ, cho Nhà nước, vì dung nạp được người phạm tội. Nghĩa là người bị coi là có tội nhờ khoan dung, nhanh hối cải, phục pháp luật, chế độ mà cảm thấy an tâm. Người được khoan dung tự họ sẽ kể về pháp luật, về chế độ Nhà nước ta, họ sẽ thành một nhân tố tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Nhà nước.

Điểm cuối cùng, người thẩm phán có bản lĩnh vững vàng để thực hiện nguyên tắc: khi xét xử thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc trên được quy định từ Hiến pháp. Chính nguyên tắc này góp phần bảo vệ chế độ, bảo về Nhà nước, bảo vệ được lẽ phải, công bằng cho nhân dân.

Người thẩm phán cần có bản lĩnh để thực hiện tốt nguyên tắc này cần tuân theo các nội dung sau: khi xét xử dựa trên những chứng cứ khách quan, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm; không bị chi phối tác động, sức ép của bất cứ cơ quan hay cá nhân nào; bản thân người thẩm phán có bản lĩnh tốt là độc lập với chính những người trong hội đồng xét xử như: đồng nghiệp; Hội thẩm nhân dân,..; không phụ thuộc vào sự gợi ý của Tòa án cấp trên; quyết định bản án độc lập chỉ căn cứ vào pháp luật.Người thẩm phán có bản lĩnh thông qua xét xử để làm cho pháp luật sáng tỏ hơn, rõ hơn.

Song người thẩm phán cần loại trừ tính độc lập tuyệt đối, tức là vượt ra ngoài phạm vi pháp luật, bất chấp phát luật, vượt quyền, vi phạm quyền. Độc lập của người thẩm phán không được tách rời đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước. Như vậy, người thẩm phán trung thành, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tức là thông qua xét xử không được xa rời, không được trái với những quan điểm, đường lối trong nghị quyết của Đảng đề ra.

Người thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, góp phần làm cho tòa án công minh. Một tòa án công minh là tòa án: Đào mãi tới chân lý khách quan, tức là cái chân lý chính xác, phù hợp với các yếu tố hiện thực của điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội của nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền. Người thẩm phán là những cán bộ, công chức giỏi của tòa án. Nhiệm vụ của thẩm phán là những người phụ trách thi hành pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, đây là công việc hết sức nặng nề, phức tạp song cũng rất vẻ vang.

TS luật học, luật sư Đỗ Ngọc Hải (Cố vấn cao cấp, Công ty luật TNHH Quốc tế Nam Thái)