Thứ Ba, 04/08/2020

Hiệu lực của Quyết định hòa giải, đối thoại tại Tòa án

15/07/2020 14:05

Hỏi: Tôi có nghe Quốc hội vừa mới thông qua Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án. Hòa giải, đối thoại tại tòa án thực hiện như thế nào? Hiệu lực của quyết định hòa giải, đối thoại tại Tòa án có bắt buộc các bên phải thi hành không?

hoagiai1-w500-h275.jpg

Hòa giải đối thoại tại Tòa án

Trả lời:

          Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

Tại Khoản, Điều 1 Luật này quy định: Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính kèm theo tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định. Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6 và 7 Điều 19 của Luật này thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo quy định của Luật này. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người khởi kiện, người yêu cầu phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa án biết về những nội dung đã được Tòa án thông báo. Các bên có quyền đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại;

Điều 19 quy định những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án: (1) Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. (2) Vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. (3) Người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng. (4) Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự. (5) Một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại. (6) Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. (7) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp các bên có yêu cầu, sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

Trường hợp có đủ điều kiện theo quy định thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

Trường hợp không có đủ điều kiện quy định thì Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do. Thẩm phán chuyển quyết định, biên bản và tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng.

Về hiệu lực của Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành, Điều 35 quy định: “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”. 

Luật sư Quang Trung