Thứ Hai, 13/07/2020

Mùa xuân 1968 và năm tháng không thể quên của người lính đặc công

01/02/2018 16:00

Tròn 50 năm kỷ niệm chiến thắng chiến dịch Mậu Thân 1968, cũng là chiến dịch đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ, ông Dần bồi hồi nhớ về kỷ niệm năm xưa.

Tuổi trẻ sục sôi

Chúng tôi tìm về thông Giáp Nhì, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định vào một ngày se lạnh cuối tháng 11 âm lịch. Nhìn thấy chúng tôi, ông Phạm Ngọc Dần tay bắt mặt mừng chào khách như những người thân quen đã lâu ngày không gặp. Trong cuộc trò chuyện dân dã, ấm cúng, chúng tôi vinh dự được biết ông là một trong những người lính đặc công tham gia vào các mũi tiến công đầu tiên vào thành Huế trong chiến dịch mùa xuân lịch sử Mậu Thân 1968.

Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất thành Nam truyền thống, ông Phạm Ngọc Dần nay đã gần bước sang tuổi 70. Phong độ, khỏe mạnh, minh mẫn. Đặc biệt, mỗi khi nhắc đến những câu chuyện về một thời khói lửa chiến đấu cùng những đồng đội của mình, đôi mắt ông lại ánh lên vẻ sắc lẹm, nét kiên trung một người lính đã từng vào sinh ra tử.

Ngồi uống trà, nhâm nhi điếu thuốc trên tay, ông Dần bồi hồi nhớ lại và kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm không thể nào quên về chiến dịch lịch sử ấy, cũng là mùa xuân đầu tiên ông khoác trên mình màu xanh áo lính.

Ông Phạm Ngọc Dần bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm một thời khói lửa, đặc biệt là cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968.

Đó là vào năm 1967, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, cậu thanh niên Phạm Ngọc Dần quyết tâm làm đơn tình nguyện vào Nam đánh giặc. Tuổi chưa đầy 18, nhưng với nhiệt huyết của tuổi thanh xuân, tinh thần yêu nước trỗi dậy mạnh mẽ, chàng trai trẻ bất chấp mọi hiểm nguy, sẵn sàng lao vào nơi khói lửa, bom rơi đạn lạc, không ai dám nói trước ngày về.

Ông được phiên chế vào Sư đoàn 305, Bộ Tư lệnh đặc công, huấn luyện tại Sơn Tây, Hà Sơn Bình (tức Hà Nội ngày nay). Ông bảo, cũng tầm tháng 11 âm lịch năm đó, ông bắt đầu hành quân vào Nam chiến đấu. Trên đường hành quân dài dằng dặc, ông cùng đồng đội đã trải qua nhiều tháng ngày đói rét, khổ cực nhưng vẫn hừng hực khí thế tuổi trẻ, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Khi chiến dịch Mậu Thân nổ ra, các đơn vị được giao nhiệm vụ, "nhưng tất cả chúng tôi đều không biết đây là chiến dịch lớn, bởi bí mật đến cùng là yêu cầu vào thời điểm lúc ấy", ông Dần nhớ lại. Ông kể, ông cùng các đồng đội được giao nhiệm vụ tham gia mặt trận Trị Thiên Huế; đồng thời được phiên chế vào 2 tiểu đoàn đặc công của tỉnh Thừa Thiên lúc bấy giờ. "Mật danh của tiểu đoàn 1 lúc ấy là “Cô bé A”, tiểu đoàn 2 là “Cô bé B”, ông Dần nói thêm.

Đêm 30 Tết, khi tiếng pháo giao thừa đầu tiên vang lên cũng là thời điểm tiếng súng phát lệnh tấn công khiến địch hoàn toàn bất ngờ. Ông vui mừng lý giải cái hay của cách lựa thời điểm phát lệnh tấn công, bởi lẽ, khi tiếng súng vang lên, quân địch sẽ nhầm tưởng là tiếng pháo giao thừa mà sơ hở, không cảnh giác. Nào ngờ, tiếng súng ấy chính là dấu mốc quan trọng cho sự khởi đầu của một chiến dịch đã đi vào lịch sử.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968 ở Huế đi vào lịch sử dân tộc như bản anh hùng ca, là trận đấu mở ra một bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.

Mùa xuân đầu tiên trong quân ngũ và chiến thắng vẻ vang

Vẫn điếu thuốc trên tay, ánh mắt xa xăm gợi nhớ lại thuở gian nan, khốc liệt trong chiến tranh, ông Dần tiếp tục câu chuyện. Đơn vị ông đóng quân tại khu vực núi rừng của huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế). Bắt đầu nhận nhiệm vụ mở một chiến dịch tấn công, Tiểu đoàn 1 và 2 nhận nhiệm vụ đánh đồn Mang Cá, trung tâm chỉ huy quân đoàn 1 của địch. Vào đánh đồn, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ tấn công từ phía huyện Hương Trà đi xuống, đánh hướng chánh tây của đồn Mang Cá.

Hình ảnh một đơn vị làm lễ trao cờ trước giờ xuất kích trong chiến dịch Mậu Thân (Ảnh: Tuổi trẻ thủ đô).

Ông kể, lúc đó, lực lượng quân ta rất mỏng, vũ khí bình thường, đánh nhưng không thể chiếm được nhưng quân ta giữ được TP. Huế  đúng 25 ngày đêm rồi ém quân ra ngoài để xây dựng lực lượng. Riêng trọng trách cao cả của ông Dần và đồng đội cùng là lính đặc công bấy giờ nhận nhiệm vụ “biệt động thành phố”.

Để có thêm cái nhìn sâu sắc, ông  Dần giải thích thêm cho chúng tôi nhiệm vụ cũng như cách đánh của lính đặc công bởi lẽ, ông là một trong những người đầu tiên tham gia vào lính đặc công. Mặc dù cách đánh  của bộ đội đặc công có từ thời chống Pháp nhưng đến 19/3/1967 Bộ Tư lệnh đặc công mới chính thức được thành lập và trở thành “Quả đấm thép – Con cưng của chiến trường”.

Mũi đặc công là mũi được ưu tiên số 1 được phát lệnh nổ súng, vì nhiệm vụ của đặc công là “luồn sâu - đánh hiểm - đánh từ trong đánh ra - đánh nở hoa trong lòng địch” ; “đánh nhanh -diệt gọn – làm chủ chiến trường”, đó là mục tiêu của chiến sỹ đặc công.

Đặc điểm của đồn Mang Cá là có một tường thành cao 5m, rộng 5m bao quanh thành Nội, ngoài tường thành có một con sông bao quanh, cứ 200-300m có một tháp của địch quan sát. Khi quân ta tiến vào theo cửa chánh Tây, mật tập, bí mật luồn vào, khi ông Dần cùng đồng đội leo qua tường, khi tiếp đất là một bãi mìn rất rộng.

Giữa ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, những người lính ấy chỉ giữ trong đầu suy nghĩ đơn giản, hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh nhất. Dò mìn, tháo gỡ mìn xong mới vào được đồn Mang Cá. Sau hôm đó, đồng đội trong mũi tấn công của ông có 7  người hy sinh, ông Dần và cá đồng đội khác may mắn sống sót vẫn kiên trung, tiếp tục hoàn thành giấc mơ giải phóng thành Huế.

Đêm hôm ấy (tức đêm 30 Tết – 1968), trên đường bắt đầu được các nữ du kích của địa phương dẫn đường vào mục tiêu, trên đường tiến vào thành phố Huế, ông bảo nhà nào cũng thắp hương lúc ấy ông lại nhớ đến quê hương miền bắc, nhớ đến ngày xuân da diết. Thấy gia đình nhà nhà sum họp quây quần, trong tâm tư bấy giờ, ông chỉ nghĩ là không biết sau xuân này có được về sum họp, giữa đêm giao thừa, mình chuẩn bị nổ súng chiến đấu, vì quê hương, vì gia đình nên ông chỉ có một phương án là phải chiến thắng để trở về - suy nghĩ lúc ấy chỉ đơn giản thế thôi.

“Đồng chí thành đội trưởng Huế lúc bấy giờ là ông Thân Trọng Một quyết định mồng 1 Tết cho mỗi đồng chí tham gia chiến đấu 1 lon gạo để ăn tết đưa về đơn vị mới chia ra nấu cháo. Lúc đó, những ngày dài ăn củ rừng, củ môn thục, môn vót với 1 lon gạo là rất quý giá”, người lính năm nào chia sẻ niềm vui.  

Đến bây giờ, đã tròn 50 năm kể từ cuộc nổi dậy tổng tấn công ấy nhưng  trong tâm tư người lính đặc công năm nào vẫn nhớ như mới hôm qua về sự tàn khốc của chiến trường, về nỗi đau thương khi tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội và đồng bào của mình phải đổ máu dưới mũi súng đanh ác của kẻ thù. Nhưng có lẽ, chính điều đó đã trở thành động lực tạo nên những ý chí kiên cường, anh dũng để những người lính còn sống sót tiếp tục chiến đấu không ngừng, đem lại vinh quang cho dân tộc.

Kết thúc cuộc trò chuyện, câu hát của ông Dần vang lên “Chiến công anh là một mùa xuân lấp lánh, em hái tặng anh một nhánh mai vàng. Quân đi rung lá ngụy trang, cắm thêm một nhánh mai vàng thêm xinh” như tiếp thêm động lực, tinh thần yêu nước và biết ơn đến các chiến sỹ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc cho lớp trẻ chúng tôi khi được sống trong hòa bình, no ấm như ngày hôm nay. Nửa thế kỷ trôi qua nhưng cuộc tổng tấn công nổi dậy Xuân 1968 ở Huế mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đằng Dương