Thứ Bảy, 28/11/2020

Ly hôn với người nước ngoài ,Tòa án nào thụ lý giải quyết?

14/03/2020 10:33

Năm 2000, tôi có kết hôn, chồng tôi là người nước ngoài, hiện sinh sống tại Việt Nam. Vợ chồng tôi đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp TP. HCM. Hiện nay, hôn nhân không hạnh phúc, tôi muốn ly hôn. Cơ quan nào giải quyết đơn ly hôn của tôi?

Trả lời:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ Luật Dân sự 2015 thì vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài là vụ việc ly hôn có đương sự mang quốc tịch nước ngoài hoặc sinh sống (thường trú hoặc tạm trú) ở nước ngoài; tài sản khi giải quyết ly hôn bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 thì việc giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình hay yêu cầu về hôn nhân và gia đình đều thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Khoản 3, Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: “Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 (tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình) và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.”

Cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thể thực hiện được cần phải yêu cầu cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ: theo quy định tại Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức.

Tuy nhiên, trong trường hợp nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam của bị đơn thì căn cứ vào điểm 1, điều 40 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định rằng: “Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây: Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.

Như vậy, nếu bạn không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự thì bạn nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện.

Hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các tài liệu: Đơn xin ly hôn (theo mẫu); Bản sao Giấy CMND hoặc giấy chứng thực cá nhân (Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân); Hộ khẩu, thẻ tạm trú dài hạn của người nước ngoài (nếu có) (sao y bản chính); Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải trình bày rõ trong đơn kiện; Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con); Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp);

Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh;

Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

Ngoài ra, Tòa án có thể yêu cầu bạn và chồng của bạn làm bản cam kết chỉ được Sở Tư pháp TP. HCM cấp duy nhất 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn và chỉ nộp đơn khởi kiện tại một Tòa án.

Luật sư Quang Trung