Thứ Tư, 18/09/2019

Nhận diện hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng

06/09/2019 11:30

Thời gian qua, hàng loạt đại án trong lĩnh vực ngân hàng đã được Tòa án đưa ra xét xử được dư luận hết sức quan tâm. Hàng trăm bị cáo đã bị tuyên án tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hậu quả mà nó để lại không hề nhỏ…

Sai phạm lớn, thủ đoạn tinh vi…

Những đại án liên quan đến các tổ chức hoạt động tín dụng hậu quả thiệt hại đặc biệt nghiệm trọng, làm dư luận nhức nhối. Các đối tượng gây ra sai phạm này đều sử dụng các thủ đoạn tinh vi nhằm đối phó với cơ quan bảo vệ pháp luật. Số tiền thiệt hại nếu sắp xếp theo thời gian và mức độ thì ngày càng lớn dần. Một kết quả đáng buồn là tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục có xu hướng gia tăng. Vụ sau nghiêm trọng hơn vụ trước và để lại hậu quả không lường.

Theo đó, vụ Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm, phạm tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng ACB gây thiệt hại trên 718 tỷ đồng; Vụ Hà Văn Thắm và đồng phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Vi phạm quy định về cho vay, tham ô tài sản, gây thiệt hại 2.236 tỷ đồng.

Vụ Trần Phương Bình và đồng phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định trong quản lý về kinh tế, gây thiệt hại 3.566 tỷ đồng. Vụ Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt 3.986 tỷ đồng, xảy ra tại Ngân hàng Vietinbank; Vụ Vũ Quốc Hảo và đồng phạm lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính II, gây thiệt hại 4.700 tỷ đồng.

Đặc biệt, không ít vụ án gây thiệt hại hàng chục ngàn tỷ đồng xảy ra cùng một ngân hàng. Cụ thể, vụ Hứa Thị Phấn và đồng phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vi phạm quy định về cho vay, xảy ra tại Ngân hàng Đại Tín, gây thiệt hại hơn 12.006 tỷ đồng. Vụ Phạm Công Danh và đồng phạm cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm quy định về cho vay, xảy ra tại Ngân hàng VNCB (tiền thân là Ngân hàng Đại Tín), gây thiệt hại 15.251 tỷ đồng.

Nhiều vụ án có số lượng lớn các bị can là lãnh đạo ngân hàng và lãnh đạo các doanh nghiệp liên quan, như vụ Hứa Thị Phấn và đồng phạm có 28 bị can, vụ Hà Văn Thắm có 51 bị can, vụ Phạm Công Danh và đồng phạm (giai đoạn 1,2) có 82 bị can ... Theo số liệu thống kê của VKSNDTC, tội phạm phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng từ 2013 đến 2017 là 45 vụ với 432 bị can. Trong số 432 bị can đã khởi tố có 249 bị can là lãnh đạo, nhân viên các tổ chức tín dụng. Hành vi phạm tội của các bị can đã xâm hại đến tài sản của 65 lượt ngân hàng, 17 công ty và một số cá nhân, với tổng số tiền thiệt hại là 49.640 tỷ đồng.

Kiểm tra công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham
nhũng, kinh tế tại Ban cán sự Đảng TANDTC

Theo đánh giá của VKSNDTC, tội phạm phát sinh liên quan đến hoạt động ngân hàng tập trung chủ yếu ở 04 tội danh là: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Vi phạm các quy định về cho vay; Cố ý làm trái; Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Ngoài ra còn nhóm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tham ô tài sản...

Kết quả thống kê cho thấy, trung bình mỗi vụ án phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng có 09 bị can tham gia, hầu hết các vụ án đều có tính đồng phạm, phạm tội có tổ chức; hậu quả do tội phạm gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Hay nói khác, các vụ án liên quan đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thường có nhiều đối tượng tham gia, nhiều tình tiết phức tạp, thủ đoạn thực hiện tinh vi và cấu thành nhiều tội danh. Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng đã thực sự trở thành nguy cơ đe dọa phá vỡ chính sách phát triển kinh tế - xã hội, làm suy giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, gây mất lòng tin của nhân dân.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng như: Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng và một số quy định pháp luật về xử lý các vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng chưa thực sự phù hợp dẫn đến việc phát hiện, xử lý đối với loại tội phạm này còn chưa kịp thời; công tác quản lý nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động ngân hàng hiệu quả chưa cao…

Bên cạnh đó, công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng chưa thực sự hiệu quả. Đồng thời, để chứng minh các hành vi vi phạm, tội phạm cần thông qua nhiều biện pháp, trong đó có các hoạt động giám định, định giá tài sản. Tuy nhiên, việc giám định, định giá tài sản lại còn nhiều hạn chế, bất cập, là một trong dẫn đến hạn chế trong việc điều tra, xử lý đối với loại tội phạm này.

Quyết tâm thu hồi tài sản cho ngân sách

Hầu hết các tội phạm kinh tế, tham nhũng, chức vụ là tội phạm rất khó phát hiện, khó điều tra chứng minh tội phạm, đặc biệt là tội phạm phát sinh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng. Tài sản tội phạm chiếm đoạt trong các vụ án là đặc biệt lớn, do đối tượng phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn, có chuyên môn nghiệp vụ nên thường sử dụng dùng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để che giấu hành vi phạm tội, che giấu nguồn gốc hình thành tài sản do phạm tội mà có, che giấu đường đi của dòng tiền và việc sử dụng tiền, nên rất khó phát hiện, thu hồi.

Đó là chuyển tiền lòng vòng qua nhiều tài khoản đứng tên nhiều người khác nhau, tại nhiều ngân hàng, sau đó rút ra sử dụng để thanh toán cho các khoản vay nợ cá nhân, mua sắm tài sản, mua cổ phần, cổ phiếu, góp vốn đầu tư kinh doanh đứng tên người khác; rút tiền mặt ra khỏi tài khoản sau đó nộp vào để đảo nợ, trả lãi vay tại các tổ chức tín dụng; rút tiền mặt chuyển cho người khác đứng tên sau gửi vào tổ chức tín dụng ... Theo số liệu thống kê toàn quốc thì tổng số tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng thu hồi được rất ít, chỉ khoảng 19% so với tổng tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát.

Để tăng cường thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, chức vụ, lãnh đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chỉ đạo quyết liệt quá trình điều tra xác minh rõ làm rõ thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra, tài sản liên quan đến hành vi phạm tội và việc sử dụng tài sản, tài sản thuộc sở hữu của đối tượng phạm tội hoặc đã bị chuyển giao bất hợp pháp cho người khác, nhằm tẩu tán, che giấu tài sản do phạm tội mà có.

Nhiều giải pháp đã được các cơ quan bảo vệ pháp luât thực hiện với sự đồng thuận về quan điểm áp dụng pháp luật để thu hồi tài sản cho ngân sách, nâng cao niềm tin của nhân dân về hiệu quả xử lý tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát từ các đại án ngân hàng.

Thực tế, để thu hồi tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản liên quan đến người phạm tội đã được áp dụng ngay từ khi giải quyết tin báo, cũng như trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Đó là tạm giữ, thu giữ, kê biên, phong tỏa, khuyến khích các bị can, bị cáo khắc phục hậu quả, chủ động phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để thuyết phục, vận động bị can, bị cáo và các đối tượng liên quan tự nguyện khai báo, giao nộp khắc phục thiệt hại để được xem xét giảm nhẹ hình phạt, được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Kết quả nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng đã thu hồi được số lượng lớn tài sản để khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, như: Vụ Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm, xảy ra tại Ngân hàng ACB thu hồi được 264 tỷ đồng; Vụ Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng Vietinbank đã thu hồi được 630 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh và đồng phạm, xảy ra tại Ngân hàng VNCB, thu hồi 6.878 tỷ đồng (đạt tỷ lệ thu hồi 75%) ...

Đặc biệt, vụ án Hứa Thị Phấn và đồng phạm, phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Cố ý làm trái quy định và quản lý kinh tế gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho Ngân hàng Đại Tín, với tổng thiệt hại lên tới 15.000 tỷ đồng. Quá trình điều tra, việc phát hiện và thu hồi tài sản liên quan đến hành vi phạm tội rất khó khăn vì bị can Phấn không hợp tác với Cơ quan điều tra, còn các bị can giúp sức đắc lực cho Hứa Thị Phấn đều khai báo quanh co, che giấu hành vi phạm tội của bản thân và của Hứa Thị Phấn, che giấu việc sở hữu tài sản giúp cho bị can Phấn.

Hậu quả từ những vụ đại án trong lĩnh vực ngân hàng là không hề nhỏ

Cơ quan tiến hành tố tụng xác định được Ngô Kim Huệ và Bùi Thị Kim Loan là những đối tượng đứng tên nhiều bất động sản, cổ phiếu cho Hứa Thị Phấn, nhưng không khai báo, không hợp tác với Cơ quan điều tra để xác minh, thu hồi.

Trên cơ sở căn cứ xác định 02 bị can này phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã thống nhất thay đổi tội danh từ cố ý làm trái sang tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bắt tạm giam bị can để phục vụ điều tra vụ án.

Kết quả, sau khi bắt bị can để tạm giam, áp dụng các biện pháp đấu tranh, vận động, thuyết phục, các bị can đã nhận thức được sai phạm và chính sách khoan hồng của pháp luật, đã có thái độ hợp tác tốt với Cơ quan điều tra, khai báo hành vi phạm tội của mình và của Hứa Thị Phấn. Đồng thời, hai đối tượng này khai báo những tài sản đứng tên giúp Hứa Thị Phấn.

Từ lời khai nhận mới này, Cơ quan điều tra đã xác minh, làm rõ và thực hiện kê biên thu hồi tài sản có tổng trị giá khoảng 10.000 tỷ đồng (đạt tỷ lệ thu hồi 67%), hạn chế được thiệt hại cho Nhà nước và đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các bên liên quan.

Những bài học từ thực tiễn

Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng thường có sự cấu kết, móc nối giữa các đối tượng trong và ngoài ngân hàng. Một số cán bộ ngân hàng bị tội phạm mua chuộc đã tiếp tay, thông đồng với tội phạm, thực hiện hành vi trái pháp luật, sau đó che giấu sai phạm bằng nghiệp vụ ngân hàng.

Không ít đối tượng là cán bộ ngân hàng yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm, bị lệ thuộc vào cấp trên, thực hiện không đúng quy trình, quy định về cho vay, không kiểm tra, giám sát sau khi cho vay theo quy định chức trách, nhiệm vụ, dẫn đến bị các đối tượng phạm tội khác lợi dụng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của ngân hàng, khách hàng.

Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng lòng tham của các bị hại, sự thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu trách nhiệm đối với quản lý tài sản của mình, hoặc sơ hở trong công tác quản lý hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, để thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, để xử lý đúng bản chất hành vi phạm tội, xác định đúng tội danh khởi tố trong các vụ án phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng, phải căn cứ nhiều yếu tố, như: yếu tố chủ thể, yếu tố sở hữu, tình trạng vốn chủ sở hữu của tổ chức tín dụng, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng, cùng các dấu hiệu chủ quan, phương thức, thủ đoạn phạm tội.

Trong một số vụ án, việc sử dụng số tiền chiếm đoạt được của tổ chức tín dụng có ý nghĩa trong việc xác định bản chất tội phạm, xác định tội danh, ví dụ: tiền chiếm đoạt được sử dụng để đảo nợ tại chính tổ chức tín dụng đó, hay sử dụng mua cổ phần tăng vốn điều lệ tại tổ chức tín dụng, sử dụng để trả lãi ngoài cho khách hàng... khác với việc sử dụng cho nhu cầu cá nhân của đối tượng phạm tội; ví dụ, cùng hành vi lập khống hồ sơ, chứng từ để thực hiện rút tiền của ngân hàng để sử dụng, nhưng Phạm Công Danh sử dụng số tiền này để “chăm sóc khách hàng” của ngân hàng thì phạm vào tội “Cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, còn Hứa Thị Phấn chuyển tiền ra để chiếm hưởng cá nhân thì bị khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Thực tiễn cho thấy, tội phạm kinh tế, tham nhũng phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng rất đa dạng về hành vi và phức tạp về yêu cầu chứng minh để xác định giữa vi phạm và tội phạm. Do đó, để đáp ứng yêu cầu xử lý kịp thời thì cần thực hiện theo nguyên tắc “rõ đến đâu xử lý đến đó”. Vì vậy, những hành vi nào đã được chứng minh và xác định hậu quả thiệt hại thì khởi tố ngay để làm tiền đề tố tụng; những việc nào chưa rõ thì tách ra và làm thành giai đoạn 2, thậm trí là giai đoạn 3 để phù hợp với hành vi phạm tội theo hồ sơ vụ việc.

Nhưng thực tế vẫn có nhiều vấn đề cần tâm thế dũng cảm trong đánh giá chứng cứ, hành vi phạm tội để có quyết định đúng người, đúng tội. Đó là ngày 22/03/2017, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố đối với Hứa Thị Phấn và đồng phạm về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại Điều 165 BLHS năm 1999, trong đó có hành vi nâng khống giá trị nhà số 5 Phạm Ngọc Thạch, sau đó bán cho Ngân hàng Đại Tín, chiếm hưởng giá chênh lệch 1.105 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đánh giá lại tài liệu, chứng cứ điều tra, VKSNDTC nhận thấy: Việc bị can Phấn và đồng phạm nâng khống căn nhà số 5 Phạm Ngọc Thạch lên gấp 8 lần giá thị trường, bán cho ngân hàng với giá 1.260 tỷ đồng. Ngân hàng Đại Tín đã hạch toán khoản đầu tư tài sản này vào tài sản cố định của ngân hàng. Việc mua bán đã xong nên bị can Phấn đã hoàn thành việc chiếm đoạt 1.105 tỷ đồng của ngân hàng.

Mặc dù, bị can Phấn sở hữu 85% vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Đại Tín, nhưng thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào tháng 02/2012, khi đó ngân hàng đã âm vốn sở hữu 2.854 tỷ đồng. Số tiền 1.105 tỷ đồng bị can Phấn chiếm đoạt là tiền gửi của khách hàng, không còn tiền của bị can Phấn.

Do đó, các bị can bị xử lý về tội “Cố ý làm trái...” thì vai trò của bị can Hoàng Văn Toàn (Chủ tịch HĐQT) lại là chính (có trách nhiệm bồi thường, nhưng không sử dụng tài sản và biến bị can Phấn trở thành đồng phạm). Trong khi đó về bản chất, Toàn chỉ là người làm thuê, được Phấn dựng lên và thực hiện các hành vi phạm tội theo yêu cầu của Phấn.

Toàn bộ tài sản chiếm đoạt được cũng đều do Phấn sử dụng. Phấn cũng là người đang sở hữu khối tài sản rất lớn liên quan đến hành vi phạm tội. Phấn che giấu bằng cách chuyển một phần cho các bị can trong vụ án và người nhà đứng tên. Việc xử lý Phấn với vai trò đồng phạm với Toàn về tội Cố ý làm trái, vừa không đúng bản chất hành vi phạm tội, vừa khó thu hồi tài sản cho Nhà nước.

Theo đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thay đổi Quyết định khởi tố bị can đối với Hứa Thị Phấn và 03 đồng phạm đối với hành vi nêu trên.

Kết quả xét xử cho thấy, cả hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên xử Hứa Thị Phấn 20 năm tù, các bị cáo khác từ 7 đến 13 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999.

Đến thời điểm này, tổng số năm tù mà Hứa Thị Phấn phải chấp hành theo các bản án là 30 năm tù, (mức án cao nhất của hình phạt có thời hạn); buộc bồi thường hơn 16.700 tỷ đồng cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân bị thiệt hại.

Như vậy, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ đại án ngân hàng đã cho thấy thủ đoạn phạm tội hết sức đa dạng, hành vi phạm tội được thực hiện rất tinh vi, che giấu bằng nghiệp vụ ngân hàng. Điều này đặt ra vấn đề cần nhận diện đầy đủ pháp lý của hiện tượng này để có giải pháp mới để không để xảy ra các sai phạm trong tương lai.

Hiện nay cả nước ta có 129 tổ chức tín dụng, trong đó có 02 ngân hàng chính sách, 02 hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, 04 ngân hàng TM TNHH MTV do Nhà nước sở hữu, 31 ngân hàng TMCP, 61 ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 02 ngân hàng liên doanh, 27 công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính.

 

Nguyễn Văn