Chủ Nhật, 09/08/2020

Giáo sư Vũ Triệu An: Cây đại thụ của nền y tế Việt Nam

04/07/2020 17:26

...Trong nghiên cứu y học phải coi trọng thực nghiệm trước khi áp dụng cho con người … đây là những tư tưởng cũng như những bài giảng của GS, NGND Vũ Triệu An...

Xét cho cùng, ở thời đại nào, đạo đức y học là sẵn sàng, tận tâm cứu chữa người bệnh và không được phép biến sự đau khổ về thể xác, tinh thần của người bệnh thành cơ hội tạo vinh hoa phú quý cho bản thân mình… Trong nghiên cứu y học phải coi trọng thực nghiệm trước khi áp dụng cho con người … đây là những tư tưởng cũng như những bài giảng của GS, NGND Vũ Triệu An.

70 năm phục vụ ngành y tế

GS Vũ Triệu An sinh ngày 16/3/1926 tại Thái Bình và lớn lên trong lúc các phong trào thanh niên học sinh yêu nước ở Thái Bình và Nam Định phát triển mạnh, ông đã sớm giác ngộ. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương phát động các cuộc nổi dậy của nhân dân tại Thái Bình, thông qua các người bạn trong đó có nhà thơ Việt Phương (sau này là thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), ông Hữu Thọ (sau này là Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương), ông đã tham gia các hoạt động của thanh niên yêu nước ngay từ khi còn là học sinh trường Lê Quý Đôn tại Thái Bình.

Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, ông lên chiến khu và theo học tại Đại học Y Hà Nội sơ tán tại Chiêm Hoá. Sau đó ông được phân công đi thực tập phục vụ chiến trường tại Đoàn Giải phẫu Lưu động mặt trận phía Nam đường số 5, đóng tại làng Phạm Xá, huyện Thanh Miện, Hải Dương (1947); Trung đoàn 42, đóng tại Thái Bình (1948); Quân y Viện Khu 3, đóng tại làng Khuốc, Thái Ninh, Thái Bình (1949).

Từ năm 1950 – 1954, ông là Bác sĩ điều trị Phân viện Quân y VII và V, đóng tại làng Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, từ 1954 - 1959, ông là Trưởng khoa Nội A3 - Khoa Truyền máu Quân y viện Trung ương 108. Năm 1956, ông được biệt phái bán thời gian để xây dựng Khoa Sinh lý - Bệnh lý, Đại học Y Hà Nội (1956 - 1959).

Từ 1958 ông được giao là Phụ trách bộ môn Sinh lý bệnh, Đại học Y Hà Nội và năm 1966 là Phó Chủ nhiệm và sau là Chủ nhiệm Bộ môn này, cho đến năm 1999, ông nghỉ quản lý và làm chuyên gia cáo cấp của Đại học Y Hà Nội đến 2004.

gs-vu-trieu-an-w640-h1136.jpeg

GS Vu Trieu An trong lần được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng quà nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27-2 

Tuy thôi làm nhiệm vụ quản lý, nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài hướng dẫn các cán bộ trẻ trong bộ môn và các nghiên cứu sinh làm các đề tài nghiên cứu khoa học. Ông được Bộ Y tế mời tham gia Hội đồng chuyên môn trung ương về ghép tạng.

95 năm tuổi đời trong đó có gần 70 năm phục vụ trong ngành y tế, GS Vũ Triệu An dã có nhiều đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giáo dục y học và nghiên cứu khoa học. Tập họp những công trình nghiên cứu của ông về sản xuất các chế phẩm miễn dịch học dùng cho chẩn đoán đã được trao Giải thưởng Nhà nước năm 2001 và ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Nhiều học trò của ông đã và đang công tác trong các trường Đại học, các Viện nghiên cứu Y học khắp mọi miền đất nước.

Nghiên cứu y học bắt đầu từ nhận xét nhưng cần thực nghiệm

Trong nhiều bài học rút ra từ ông, bài học sâu đậm nhất là tư duy biện chứng về nghiên cứu bệnh học. Ông luôn luôn đề cao tư tưởng y học phải dựa trên trên thực chứng. Giáo sư Vũ Triệu An truyền đạt cho các thế hệ học trò nguyên tắc nghiên cứu y học bắt đầu từ những nhận xét trong cuộc sống của con người, nhưng các nhận xét và ý tưởng y học nảy sinh từ nhận xét đó cần phải được thông qua thực nghiệm để rút ra những bằng chứng khoa học rồi mới được áp dụng rộng rãi cho người bệnh.  

Tư duy trong bài nhập môn bộ môn Sinh lý bệnh học năm nào của ông chẳng những có tính lâu dài và chắc chắn trong chuyên môn y học mà còn có tính cao cả ngay trong đạo lý y học ở chỗ người thầy thuốc phải luôn cẩn trọng trước sinh mạng người bệnh.

Tư duy biện chứng trong nghiên cứu y học của ông còn được thể hiện trong việc chọn các đề tài nghiên cứu. Theo ông, đã là nghiên cứu phải có cái mới, không có cái mới sao gọi là nghiên cứu. Nhưng nghiên cứu còn phải mang lại hiệu quả trong ứng dụng chẩn đoán và điều trị, có nghĩa là phải gắn với mục đích của y học và mang lại lợi ích cho người bệnh.

Chính ông là một trong những người đầu tiên ở nước ta đã đề xuất việc sản xuất các chế phẩm sinh học, đặc biệt là các chế phẩm miễn dịch học dùng vào mục đích chẩn đoán bệnh. Trong nhiều thành công ấy có thành công đầu tiên phát hiện ra kháng nguyên Au bằng kỹ thuật miễn dịch đối lưu trong máu người Việt Nam (sau này người ta đổi tên thành kháng nguyên HbsAg là một dấu ấn để phát hiện nhiễm virus viêm gan B) và cảnh báo mức độ nhiễm virus viêm gan B cao ở quần thể người Việt Nam, thành công phát hiện kháng nguyên alpha-fotoprotein ở người ung thư gan nguyên phát - một bệnh rất phổ biến ở Việt Nam… Cụm công trình góp phần sản xuất các chế phẩm sinh học của ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001.

Cương trực, khách quan khi đối diện các học thuyết y học

Trong nhiều hội nghị, GS Vũ Triệu An đã phê phán những biểu hiện hình thức và lãng phí trong khoa học. Ông khẳng định, phải có chủ đề khoa học mới tìm công nghệ, và từ công nghệ mới đi tìm loại máy móc để mua và trang bị thích hợp. Quan điểm của ông trái với việc làm của một số người chỉ nhằm mua máy móc, nhưng không biết mua để làm vào việc gì, để rồi “đắp chiếu” và chỉ nhằm khoe rằng cơ sở “rất hiện đại”.   

gs-vu-trieu-an-chuan-w1000-h682.jpg

Lễ kỷ niệm 60 năm Bộ môn sinh lý bệnh - miễn dịch 

Khách quan và cương trực không chỉ có trong tư duy khoa học mà ở ông còn thể hiện ngay trong quan hệ hàng ngày với bạn bè, đồng nghiệp và học trò. Không bệnh vực ai khi chưa rõ chứng cứ, nhưng cũng không trù ghét ai đến mức cay nghiệt ngay cả với người đã thành kiến với mình. Có lẽ một mặt là cương trực và mặt kia là sự tha thứ, khoan dung, hai mặt này trong con người ông là hai đức tính song hành và cộng hưởng với nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn GS Tôn Thất Tùng, một người thầy lỗi lạc của y học Việt Nam, rằng: “Chú ở ngoài Đảng cũng là phục vụ Đảng”. Có lẽ trường hợp của Giáo sư Vũ Triệu An cũng là một trường hợp như vậy, ông không phải là một đảng viên nhưng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và Huân chương Độc lập hạng nhì mà Đảng và Nhà nước ta đã tặng cho ông là một minh chứng cho lập luận này.

Nói đến mục đích của môn học Sinh lý bệnh học là người ta nghĩ đến việc tìm ra quy luật trong bệnh học. Để được công nhận là quy luật, các lập luận phải có tiêu chí khách quan và trung thực. Có lẽ vì vậy bản tính của GS Vũ Triệu An đã dẫn dắt ông đến với môn học Sinh lý bệnh học và đã góp phần rất to lớn cho sự hình thành và phát triển môn học này trong y học ở Việt Nam. Ngược lại, say mê cống hiến cho sự phát triển của môn học này lại là cơ hội để bản lĩnh này của GS Vũ Triệu An thêm kết chín và thể hiện một cách đầy đủ trước tất cả học trò và đồng nghiệp.

Giáo sư Vũ Triệu An đã đặt nền tảng xây dựng nên chuyên ngành Sinh lý bệnh học - Miễn dịch học và là một cây đại thụ lớn của nền y tế nước nhà.

GS TSKH Phạm Mạnh Hùng