Thứ Năm, 09/12/2021

TP HCM: Không có căn cứ xác định diện tích đất yêu cầu phân chia là tài sản riêng

27/10/2021 14:07

Bị đơn cho rằng, diện tích đất trong vụ án ly hôn là tài sản riêng của mình nhưng lại không đưa ra được các căn cứ chứng minh. Do đó, HĐXX TAND Quận 7 xác định đây là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông Phong, bà Thanh và tiến hành chia theo quy định của pháp luật.

TAND Quận 7 thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Duy Thanh Phong (cư trú Quận 7, TPHCM), bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh Thanh (cư trú Quận 7, TPHCM). Ngày 22 và 29/1/2021, TAND Quận 7 tiến hành xét xử và ban hành bản án số 64/2021/GNGĐ-ST. Theo bản án, TAND Quận 7 chấp nhận cho ông Phong, bà Thanh được ly hôn. Các con chung giữa hai ông bà đã trưởng thành, có cuộc sống riêng và tự định đoạt.

1-w1198-h790.jpg

Ông Phong, bà Thanh là người đứng tên bên nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng bà Chi tại hợp đồng xác lập năm 2000.

Về phần tài sản, TAND xác định, ông Phong và bà Thanh yêu cầu giải quyết diện tích đất sử dụng thực tế là 1.178m2 (bao gồm 864m2 thuộc GCN QSDĐ và 314m2 là diện tích tiếp giáp chưa cập nhật vào giấy chứng nhận) là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, HĐXX đã tiến hành phân chia tài sản chung trên cơ sở quy định pháp luật.

Không đồng ý, bà Thanh kháng cáo bản án sơ thẩm lên TAND TPHCM và yêu cầu Tòa phúc thẩm xác định diện tích đất nêu trên là tài sản riêng của mình. Vậy, yêu cầu kháng cáo của bà Thanh đưa ra liệu có căn cứ?

Theo hồ sơ vụ án, ông Phong và bà Thanh có quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/1/1996 của UBND xã Tân Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 23/4/1998, bà Trần Thị Chi (mẹ ruột ông Phong) được UBND huyện Châu Thành cấp GCN QSDĐ, diện tích 4.589m2 đất tại xã Tân Bình, Châu Thành, Đồng Tháp. Ngày 21/8/2000, vợ chồng bà Chi lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho vợ chồng ông Phong, bà Thanh tại UBND xã Tân Bình.

2..jpg

Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Châu Thành công nhận diện tích sử dụng thực tế ông Phong đề nghị Tòa án giiaỉ quyết là 1.178 m2

Căn cứ nội dung hợp đồng thể hiện, bên chuyển nhượng là vợ chồng bà Trần Thị Chi và ông Nguyễn Duy Thanh, bên nhận chuyển nhượng ghi rõ chồng là ông Nguyễn Duy Thanh Phong và vợ là bà Nguyễn Thị Thanh Thanh, cả hai đều ký tên. Hợp đồng được lập theo đúng ý chí, thủ tục, trình tự pháp luật và Chủ tịch UBND xã Tân Bình tiến hành chứng thực số 188/UB.

Sau khi hoàn thành hợp đồng, do tin tưởng vợ nên ông Phong để bà Thanh đi làm thủ tục giấy tờ cập nhật sang tên. Ngày 15/2/2001, UBND huyện Châu Thành cấp GCN QSDĐ số 02306.QSDĐ/B3, bà Thanh là người đại diện đứng tên trên GCN QSDĐ. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, ông Phong, bà Thanh vẫn ở căn nhà trên đất, sử dụng đất vào sản xuất kinh doanh lò gạch. Sau này ông Phong và bà Thanh chuyển lên TPHCM sinh sống, nhà và đất trên cho người khác thuê lại làm mặt bằng kinh doanh cho tới nay.

Quá trình sử dụng đất, bà Thanh đã chuyển nhượng nhiều phần, đến ngày 14/05/2010 cập nhật biến động tại GCN QSDĐ số 02306.QSDĐ/B3 diện tích đất trên giấy chỉ còn 864m2. Khi TAND Quận 7 thụ lý giải quyết ly hôn chia tài sản thì diện tích đo đạc thực tế của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Châu Thành tại Văn bản số 6792/SĐ/VPĐKĐĐHCT ngày 29/10/2019 và ngày 17/7/2020 là 1.178m2 trong đó có 314 m2 là đất trồng cây lâu năm tiếp giáp.

Như vậy, diện tích sử dụng thực tế 1.178m2 có nguồn gốc do ông Phong, bà Thanh nhận chuyển nhượng lại từ mẹ ruột ông Phong vào năm 2000. Tài sản này có được sau khi bà Thanh và ông Phong kết hôn do đó đáp ứng khoản 1, Điều 33, Luật hôn nhân gia đình 2014: “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng…”.

Hồ sơ cũng cho thấy, đến ngày khởi kiện ra Tòa án, giữa ông Phong, bà Thanh không có bất kỳ văn bản thỏa thuận nào về việc phân chia diện tích đất này. Ông Phong cũng không có văn bản nào từ chối hoặc tặng cho phần quyền sử dụng đất của mình cho bà Thanh. Như vậy, không có căn cứ xác định diện tích đất trên là tài sản riêng của bà Thanh.

3-w600-h381.jpg

Diện tích đất ông Phong yêu cầu Tòa án xác định là tài sản chung và phân chia trong vụ án ly hôn.

Mặt khác, tại phần nhận định của bản án số 64/2021/GNGĐ-ST, HĐXX xác định: “Phần diện tích đất trên là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Trích lục hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không có tài liệu nào xác định phần diện tích đất trên là tài sản riêng của bà Thanh. Như vậy có cơ sở xác định phần diện tích đất 864m2 là tài sản chung của vợ chồng ông Phong, bà Thanh”.

Như vậy, căn cứ hồ sơ thể hiện và nội dung bản án sơ thẩm đều xác định, 1.178m2 là tài sản chung của ông Phong, bà Thanh xác lập trong thời kỳ hôn nhân. Không có chứng cứ, căn cứ nào thể hiện đây là tài sản riêng của bà Thanh.

Về phía nguyên đơn, ông Phong cũng cho rằng, diện tích 1.178m2 đã được Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Châu Thành công nhận tại Văn bản số 6792/SĐ/VPĐKĐĐHCT ngày 29/10/2019 và đo đạc bổ sung ngày 17/7/2020 là diện tích sử dụng thực tế. Trong đó 314m2 đất cây lâu năm tiếp giáp ngoài giấy chứng nhận đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp nên đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 2, Điều 101, Luật đất đai 2013.

Nếu ông và bà Thanh không ly hôn thì sẽ làm thủ tục cập nhật 314m2 vào giấy chứng nhận theo khoản 5, Điều 98, Luật đất đai 2013 quy định nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa giấy chứng nhận và số đo thực tế. Như vậy, diện tích 314m2 dù chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng đủ điều kiện được công nhận là tài sản do đó đương nhiên được phân chia trong vụ án ly hôn này.

Từ căn cứ trên, ông Phong cũng yêu cầu Tòa phúc thẩm xác định 314m2 nằm diện tích 1.178m2 là tài sản chung và phân chia theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông cũng như bà Thanh.

Kỳ Anh