Chủ Nhật, 12/07/2020

“Nước mắt” của bị cáo – Kỳ 1: Căn cứ “mong manh”

31/08/2019 11:20

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự với hai bị cáo, cơ quan tố tụng huyện Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) đã đưa ra căn cứ là cuốn sổ ghi lại quá trình giao dịch giữa các bị cáo. Liệu cuốn sổ này đã đủ căn cứ để xác định tội danh của các bị cáo?

Một căn cứ, 2 tội danh

Báo Công lý nhận được đơn phản ánh của anh Lê Văn Chương (sinh năm 1966) và vợ là chị Bùi Thị Minh Luận (sinh năm 1967), cùng trú tại Long Châu, thị trấn La Hai, Đồng Xuân, Phú Yên về việc cơ quan tố tụng hình sự huyện Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) đã đưa ra mức án quá nặng với họ.

Cụ thể, cơ quan tố tụng đã đánh giá và áp dụng cùng một loại chứng cứ để quy trách nhiệm hình sự cho Chương và Luận hai tội danh là đánh bạc và tổ chức đánh bạc.

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đồng Xuân, tháng 1/2012, Công an huyện Đông Xuân phối hợp cùng chính quyền địa phương bắt quả tang tại nhà Lê Văn Chương và Bùi Thị Minh Luận đang thực hiện hành vi nhận tiền, tịch số đề của Phan Thị Ân và Nguyễn Phụng. Công an đã thu giữ một số tài liệu, giấy tờ, sổ sách ghi chép đến việc làm cái số đề, tiền và một số tài sản có liên quan.

Quá trình điều tra xác định, từ đầu năm 2009, vợ chồng Chương - Luận đứng ra tổ chức đường dây đánh bạc dưới hình thức số đề, hai bị cáo làm chủ cái, còn Nguyễn Phụng, Phan Thị Ân, Châu Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Thu Hương, Đỗ Tư, Huỳnh Thị Thu Liên, Nguyễn Thị Tiết là người trực tiếp đi ghi số đề về nộp tiền tịch cho vợ chồng Chương – Luận để hưởng hoa hồng.

Ngoài việc tổ chức đường dây ghi đề, vợ chồng Chương - Luận còn trực tiếp bán các ô số đề cho người đánh đề mà không thông qua người ghi đề. Các lần phạm tội được liệt kê cụ thể từng lần với số tiền nộp tịch và số tiền thu lợi bất chính tương ứng.

Hình ảnh cuốn sổ của bị cáo Phụng

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2015/HSST ngày 19/ 11/2015 và Thông báo về việc đính chính bản án số 01/2015/TB-TC ngày 29/11/2015 của TAND huyện Đồng Xuân đã tuyên xử bị cáo Lê Văn Chương 02 năm tù về tội “Đánh bạc”; 03 năm tù và phạt bổ sung 40.000.000đ về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2012 đến ngày 09/4/2014.

TAND huyện Đồng Xuân tuyên xử bị cáo Bùi Thị Minh Luận 01 năm tù, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Theo đó, buộc bị cáo Lê Văn Chương phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 112.791.575đ sung quỹ Nhà nước. Tổng cộng các khoản bị cáo phải nộp là 152.791.575đ (gồm các khoản thu lợi bất chính là 112.791.575đ và phạt bổ sung 40.000.000đ).

Bùi Thị Minh Luận phải nộp để sung quỹ Nhà nước, tổng cộng là 30.200.000đ, được khấu trừ vào số tiền tạm giữ của vợ chồng Chương - Luận 206.545.500đ. Tuyên trả lại cho vợ chồng Lê Văn Chương - Bùi Thị Minh Luận số tiền 23.353.925đ.

Ngày 2/12/2015, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm với nội dung: Đề nghị tăng hình phạt chính cho cả 02 tội Tổ chức đánh bạc và đánh bạc, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền về tội Đánh bạc đối với bị cáo Lê Văn Chương. Không áp dụng hình phạt chính bằng tiền về tội Đánh bạc, không áp dụng Điều 47 BLHS để xử dưới khung hình phạt, không cho hưởng án treo, tăng hình phạt chính về tội Tổ chức đánh bạc đối với bị cáo Bùi Thị Minh Luận. Tăng hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Phụng. Đến ngày 30/3/2016 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân có quyết định số 01/QĐ-VKS rút một phần kháng nghị đối với Nguyễn Phụng.

Đơn khiếu nại của các bị cáo

Nhiều căn cứ cần được làm rõ

Ngày 3/12/2015, bị cáo Lê Văn Chương kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm xử bị cáo theo khoản 2 của hai tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” khi chỉ căn cứ vào sổ tịch của Nguyễn Phụng là mang tính quy chụp, bị cáo chi phạm tội theo khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 BLHS.

Theo bị cáo, mình không sử dụng tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc làm nguồn sống chính. Số tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc không lớn như cáo trạng truy tố, bị cáo chỉ được hưởng hoa hồng 3% vì đã chuyển cho các nhà cái khác.

Thực tế thời điểm bị bắt giữ, bị cáo Lê Văn Chương có 02 thẻ ATM với tổng số tiền trong thẻ trên một tỷ đồng, lãi hàng tháng trên 12 triệu đồng. Bị cáo Chương cũng có ruộng cho thuê, hàng ngày cùng vợ bán bánh mì, còn góp vốn làm ăn chung với người nhà ở Hà Nội được chia mỗi tháng từ 45 đến 50 triệu đồng. Theo đó, bị cáo không sử dụng tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc làm nguồn sống chính nên không phạm tội đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 BLHS như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử.

Bị cáo Chương cho biết, anh không đánh bạc với bị cáo Phụng từ ngày 28/12/2011 - 17/01/2012. Bị cáo Chương đã chuyển cho chủ cái khác là bà Nhung ở Chí Thạnh, Tuy An và bà Hằng ở La Hai, Đồng Xuân số tiền ghi đề và chỉ hưởng hoa hồng 3% nên số tiền thu lợi bất chính không lớn như kết luận điều tra, cáo trạng đã truy tố.

Luật sư bào chữa cũng cho rằng, cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của Nguyễn Phụng và sổ sách thu giữ của Phụng là không đủ căn cứ xác định số tiền bị cáo Chương đã đánh bạc như bản cáo trạng.

Đối với bị cáo Luận, bị cáo này đóng vai trò đồng phạm với chồng, thực tế người này kinh doanh và có nguồn thu chính bên ngoài. Theo đó luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt như án sơ thẩm đối với Luận; hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo Chương để điều tra làm rõ tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và việc Chương đánh bạc với bà Nhung, bà Hằng để xác định khoản tiền thu lợi bất chính của Chương.

Tuy hai vợ chồng bị cáo Chương và Luận là những người đã phạm tội, phải nhận sự trừng phạt thích đáng từ pháp luật. Tuy nhiên khi tiến hành điều tra, cơ quan tố tụng cần làm rõ các căn cứ để xử lý đúng người, đúng tội, đảm bảo sự công bằng.

 

Trường Giang