Chủ Nhật, 13/06/2021

Đồng Tháp: Vợ “qua mặt” chồng, làm giấy ủy quyền giả mạo nguồn gốc đất để chiếm đoạt

14/01/2021 10:43

Nguồn gốc đất từ bố mẹ chồng cho hai vợ chồng, thế nhưng khi ủy quyền cho cha ruột mình, bà Thanh lại khai nguồn gốc đất do cha mình giao cho đứng tên để từ đó bán hàng ngàn m2 đất mà chồng không hay biết.

Hồ sơ giả mạo nguồn gốc đất “lọt” cửa Phòng Công chứng

Theo hồ sơ, ngày 18/01/1996, ông Nguyễn Duy Thanh Phong (sinh năm 1971, ngụ Quận 7, TPHCM) và bà Nguyễn Thị Thanh Thanh (sinh năm 1974, ngụ Quận 7, TPHCM), đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Bình, huyện Châu Thành, Đồng Tháp.

Ngày 23/04/1998, bà Trần Thị Chi là mẹ ruột của ông Phong được UBND huyện Châu Thành cấp GCNQSDĐ, diện tích 4.589m2 đất tại xã Tân Bình, Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, trong đó có 3.613m2 thuộc thửa 86 và 976m2 thuộc thửa 13, tờ bản đồ 1a, xã Tân Bình.

Ngày 21/8/2000, vợ chồng bà Chi lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phong và bà Thanh. Hồ sơ xác lập giao dịch trong hợp đồng cho bên mua là vợ chồng ông Phong, bà Thanh. Ngày 15/02/2001, UBND huyện Châu Thành cấp GCN QSDĐ số 02306.QSDĐ/B3, bà Thanh là người đại diện chủ hộ đứng tên trên GCN QSDĐ.

1-w500-h332.jpg

Hợp đồng ủy quyền có nội dung giả mạo về nguồn gốc đất của bà Thanh nhưng vẫn “lọt” cửa Phòng công chứng số 2, Sở Tư pháp Đồng Tháp

Ngày 26/07/2001, bà Thanh lập Hợp đồng ủy quyền cho cha ruột là ông Nguyễn Văn Hinh (sinh năm 1928) và được ông Lê Phước Lai – Công chứng viên, Phòng Công chứng số 2 Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp chứng thực. Nội dung ủy quyền có đoạn: “…con Nguyễn Thị Thanh Thanh ủy quyền cho cha là ông Nguyễn Văn Hinh được quyền thực hiện đầy đủ các quyền năng của quyền sử dụng đất 4.589m2 đất của bên ủy quyền theo quy định pháp luật…”.

Đáng nói, Hợp đồng ủy quyền ghi sai tháng cấp GCN QSDĐ (tháng 02 thành tháng 12/2001) và bà Thanh khai sai nguồn gốc đất: “… nguồn gốc phần đất này là của ông Nguyễn Văn Hinh (bên được ủy quyền) cha của bên ủy quyền, giao cho con Nguyễn Thị Thanh Thanh đứng tên sử dụng”. Trong khi đó hồ sơ thể hiện rất rõ, diện tích 4.589m2 bà Thanh và chồng nhận chuyển nhượng từ mẹ chồng bà Thanh Thanh là bà Chi vào ngày 21/08/2000.

Ngày 08/06/2007, bà Thanh Thanh lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần Hoa Sen diện tích 1.403 m2 (thuộc thửa 86). Hợp đồng chuyển nhượng này không có ông Phong ký. Ngày 14/07/2009, bà Thanh Thanh tiếp tục lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hoàng Trung, diện tích 2.078 m2 (trọn thửa 86), có ông Nguyễn Văn Hinh ký tên bên chuyển nhượng, không có tên ông Phong. Ngày 14/05/2010, bà Thanh tiếp tục lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Đức Huy, diện tích 112m2 (một phần thửa số 13), có ông Nguyễn Văn Hinh ký tên, không có ông Phong ký.

Bản thân bà Thanh Thanh cũng khẳng định với cơ quan chức năng, 4.589m2 do bà đứng tên GCN QSDĐ là tài sản chung của hộ gia đình. Ngày 04/03/2014, Thanh tra huyện Châu Thành làm việc với bà Thanh liên quan đến nội dung khiếu nại của ông Phong, bà Thanh thừa nhận: “Việc đi đăng ký quyền sử dụng đất sau khi gia đình bên chồng chuyển nhượng cho vợ chồng tôi (Thanh Thanh), do tôi (Thanh Thanh) trực tiếp đi cùng với cha tôi (ông Hinh) đi đăng ký…”

2-w500-h375.jpg

GCN QSDĐ do bà Thanh đứng tên thay cho hộ gia đình trong quá trình hôn nhân, nhiều phần đất đã bị chuyển nhượng trái phép

Ngày 28/04/2014, Thanh tra huyện Châu Thành làm việc với ông Phong và bà Thanh, bà Thanh cũng tiếp tục thừa nhận: “Phần đất có diện tích 4.589m2 theo hợp đồng chyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản của cha mẹ hai bên được cho chung vợ (bà Thanh) và chồng (ông Phong) chúng tôi. Tuy nhiên, khi đó cha mẹ (thông gia có bàn bạc thống nhất cho tôi (bà Thanh) đứng tên GCN QSDĐ. Tuy nhiên giữa hai vợ chồng tôi chỉ có thỏa thuận miệng, không làm giấy tờ”.

Như vậy, qua 3 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên ông Phong đều không ký tên, không biết việc chuyển nhượng. Hơn nữa, việc ủy quyền sai sự thật, không đúng quy định của pháp luật nhưng không hiểu sao vẫn “lọt” cửa Phòng Công chứng số 2, Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp.

Sự việc rơi vào “quên lãng”

Do phát hiện bà Thanh mang đất của gia đình đi chuyển nhượng, ông Phong làm đơn khiếu nại vụ việc ra cơ quan chức năng, ông Phong cho rằng, việc cấp GCN QSDĐ cho bà Thanh vào ngày 15/02/2001 là sai quy định đất đai và việc UBND xã Tân Bình và Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện cấp GCN QSDĐ cho Công ty Cổ phần Hoa Sen, ông Nguyễn Hoàng Trung và ông Nguyễn Đức Huy sai quy định.

Ngày 21/2/2013, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Châu Thành có Báo cáo số 126/BC-TN-MT về việc xác minh đơn khiếu nại của ông Thanh Phong. Báo cáo nêu rõ, GCN QSDĐ số 02306.QSDĐ/B3 cấp cho bà Thanh là tài sản chung của vợ chồng bà Thanh và ông Phong. GCN QSDĐ chỉ ghi tên Nguyễn Thị Thanh Thanh (người đại diện chủ hộ), nhưng Phòng Công chứng số 2 xác lập chỉ có Thanh ký hợp đồng ủy quyền cho cha ruột là ông Nguyễn Văn Hinh không thông qua ý kiến của chồng (ông Phong) là chưa đúng quy định.

Báo cáo cũng nêu việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thanh (không có sự đồng ý của ông Phong) với ông Nguyễn Hoàng Trung, ông Hoàng Đức Huy, Công ty Hoa Sen là chưa đúng quy định.

Từ đó, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Châu Thành đề xuất việc cấp GCNQ SDĐ sai trình tự thủ tục như đối với trường hợp của các ông Nguyễn Hoàng Trung, Hoàng Đức Huy (thẩm quyền UBND huyện), của Công ty Cổ phần Hoa Sen (thẩm quyền UBND tỉnh), phải áp dụng biện pháp thu hồi, hủy GCN QSDĐ theo quy định pháp luật.

Ngày 20/9/2013, UBND huyện Châu Thành có Báo cáo số 131/BC-UBND kết quả xác minh đơn khiếu nại của ông Phong. Báo cáo nêu rõ, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (của hộ gia đình) do bà Thanh và ông Nguyễn Văn Hinh tự xác lập không có thỏa thuận của ông Phong là vi phạm Thông tư liên tịch số 04/2006/TT-LTBTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên & Môi trường.

Hợp đồng ủy quyền của bà Thanh cho ông Nguyễn Văn Hinh từ tháng 07/2001 là theo quy định Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất… tuy nhiên, đến tháng 07/2009 thì không còn giá trị pháp lý vì Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 đã thay thế. Do đó, các giao dịch trên đương nhiên không có hiệu lực pháp luật.

Bên cạnh đó, báo cáo cũng nhấn mạnh, nội dung hợp đồng ủy quyền này không đúng về nguồn gốc đất và tháng cấp GCN QSDĐ cho bà Thanh là vi phạm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ. Trên cơ sở đó, UBND huyện Châu Thành kiến nghị sẽ ban hành quyết định thu hồi, hủy GCN QSDĐ của ông Nguyễn Hoàng Trung, ông Hoàng Đức Huy. Lý do thu hồi hủy giấy là cấp sai trình tự thủ tục, không đúng quy định pháp luật.

Trao đổi với phóng viên, anh Phong cho biết, UBND huyện Châu Thành, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Châu Thành đã kết luận rõ ràng các sai phạm về vụ việc từ năm 2013. Thế nhưng không hiểu sao đến nay vụ việc vẫn không được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, khắc phục những sai phạm.

Dấu hiệu vi phạm pháp luật đã rõ ràng, cơ quan chức năng đã kết luận thế nhưng tại sao sự việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm? Những tập thể, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm trong các sai phạm này? Quyền lợi của anh Phong đang bị “treo” lơ lửng gần 10 năm nay sẽ phải giải quyết ra sao?

Văn Kỳ