Thứ Tư, 25/05/2022

Đồng Tháp: Nhiều dấu hiệu sai phạm vụ đương sự không thực hiện bản án vẫn được cấp GCNQSDĐ

12/05/2022 07:50

Mặc dù bản án nêu rõ bị đơn phải trả 1,5 tỷ đồng cho nguyên đơn nhưng hơn 6 tháng trôi qua, đương sự không thực hiện. Đáng nói, bị đơn có dấu hiệu móc nối với cơ quan chức năng xin cấp “chui” GCNQSDĐ hòng trốn tránh nghĩa vụ của bản án.

Chưa thi hành án vẫn được cấp GCNQSDĐ

Theo hồ sơ, ông Nguyễn Duy Thanh Phong (ngụ Quận 7, TP. HCM) là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị Thanh Thanh (ngụ Quận 7) trong bản án phúc thẩm số 596/2021/HNGĐ-PT về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn ngày 16/11/2021 của TAND TP Hồ Chí Minh. Bản án nêu toàn bộ diện tích 864 m2 thuộc thửa 13, tờ 1a, xã Tân Bình thuộc GCNQSDĐ số 02306.QSDĐ/B3 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 15/2/2001 là tài sản riêng của bà Thanh. Tuy nhiên, tại mục 3.2 (trang 8) của bản án nêu rõ: “Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thanh Thanh hỗ trợ ông Nguyễn Duy Thanh Phong số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) trong thời hạn 3 tháng, thi hành hạn cuối vào ngày 16/02/2022”.

1-gcn-w500-h240.jpg

Hồ sơ xin cấp "lụi" GCNQSDĐ của bà Thanh (trái), GCN mới bà Thanh được cấp (phải)

Như vậy, căn cứ nội dung bản án, theo quy định bà Thanh phải có nghĩa vụ thi hành 1,5 tỷ đồng thì mới có quyền đề nghị cơ quan chức năng cấp GQNQSDĐ. Tuy nhiên, sau ngày 12/2, bà Thanh không chấp hành bản án theo quy định. Ông Phong làm đơn yêu cầu thi hành án tới Chi cục Thi hành án Quận 7, thì cơ quan này cho biết, hiện bà Thanh chưa thực hiện nghĩa vụ bản án nhưng đã được cấp mới GCNQSDĐ theo diện giấy cũ… “bị mất”.

Theo hồ sơ, trước đó bà Thanh làm hồ sơ xin cấp đổi GCNQSDĐ số 02306.QSDĐ/B3 đã cấp năm 2001. Ngày 20/1/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành có văn bản 113/ CNVPĐKĐĐ trả hồ sơ lại cho bà Thanh, lý do thông tin giấy tờ không thống nhất, đề nghị bổ sung. Bà Thanh đã bổ sung hồ sơ, ngày 27/1/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành có Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 960/BPTNTKQ vào ngày 17/1/2022.

Ngày 22/2/2022, bà Thanh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ số GCN CS07099. Tổng diện tích đất được cấp: 1.178m2, trong đó đất ở 864m2 và 314m2 đất trồng cây lâu năm, số tờ bản đồ và số thửa cũ cũng được thay đổi mới thành thửa 23, tờ bản đồ số 4. Đáng nói, GCNQSDĐ mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho bà Thanh có 314m2 đất trồng cây lâu năm mà bản án phúc thẩm không công nhận. Hơn nữa, diện tích đất này hiện ông Phong đang tranh chấp với bà Tapiau Loan Kim (quốc tịch Canada) theo thông báo thụ lý số 03/TB-TLVA ngày 14/2/2022 của TAND tỉnh Đồng Tháp. Câu hỏi đặt ra là Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp GCNQSDĐ cho bà Thanh theo diện cấp đổi hay cấp theo bản án?

Cần phải hủy GCNQSDĐ do trái luật

Nếu thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận cũ đã cấp trước đây, thì cơ quan chức năng phải cấp theo đúng diện tích đã được nhà nước công nhận tại GCNQSDĐ số 02306.QSDĐ/B3 đã cấp năm 2001 có diện tích là 864m2. Trong trường hợp này, Sở Tài nguyên và Môi trường tự ý cấp thêm 314m2 mà bản án của Tòa không công nhận và đương sự đang tranh chấp là trái quy định pháp luật tại khoản 11, Điều 7, Thông tư 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định các trường hợp từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp GCNQDĐ.

2-w500-h706.jpg

Cơ quan thi hành án ra Quyết định ngăn chặn đối với diện tích đất bà Thanh đã được cấp GCNQSDĐ 

Còn nếu Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp GCNQSDĐ cho bà Thanh theo diện bản án của Tòa và quyết định của cơ quan thi hành án thì bắt buộc phải cấp đúng diện tích bản án, kèm theo điều kiện đương sự đã thực hiện xong nghĩa vụ tại bản án. Bà Thanh không thực hiện nghĩa vụ bản án và bị Chi cục Thi hành án Quận 7 thực hiện biện pháp ngăn chặn tài sản. Như vậy, trường hợp này Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Tháp vẫn cấp GCNQSDĐ cho bà Thanh là trái quy định pháp luật được quy định tại khoản 3, Điều 100, Luật Đất đai 2013: “3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật”.

Hơn nữa, theo hồ sơ bà Thanh là trường hợp cấp GCNQSDĐ cho cá nhân, hộ gia đình do đó thẩm quyền thuộc cấp huyện được quy định tại khoản 2, Điều 105, Luật Đất đai 2013: “2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”. Hồ sơ vụ việc cũng thể hiện, đơn vị nhận hồ sơ và trả kết quả hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của bà Thanh là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành nhưng không hiểu sao GCNQSDĐ số CS07099 cấp ngày 22/02/2022 cho bà Thanh lại do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp.

Bà Thanh là người có nghĩa vụ trả 1,5 tỷ cho ông Phong tại bản án phúc thẩm, do đó bà Thanh là người phải thi hành án theo khoản 3, Điều 3, Luật Thi hành án dân sự 2008. Bà Thanh đã bị Chi cục Thi hành án Quận 7 thực hiện biện pháp ngăn chặn theo Điều 69, Luật Thi hành án dân sự 2008. Như vậy cơ quan thi hành án phải thực hiện việc cưỡng chế thi hành án theo Điều 46, và thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo Điều 70, Điều 71, Luật Thi hành án dân sự 2008.

Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thanh khi bà chưa thực hiện nghĩa vụ tại bản án của Tòa là trái Luật thi hành án dân sự 2008; Sở này đã cấp cả phần đất ngoài bản án và đang có tranh chấp tại Tòa án là trái quy định pháp luật đất đai. Do đó buộc phải thu hồi theo điểm d, khoản 2, Điều 106, Luật Đất đai 2013: “d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai”.

Văn Kỳ