Thứ Tư, 27/01/2021

Bình Dương: UBND Tân Uyên ban hành công văn chưa thấu tình đạt lý

28/11/2020 21:05

Theo quy định, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó có hiệu lực. Tuy nhiên, UBND thị xã Tân Uyên áp dụng Quyết định có sau để làm căn cứ cho rằng không có cơ sở để bồi thường đất cho dân.

hinh-1vo-chong-ba-lan-w533-h400.jpg

Vợ chồng bà Lan, ông Làm tại vị trí đất bị thu hồi mà không có bất kỳ quyết định thu hồi đất nào

Dân mỏi mòn kiến nghị, chính quyền trả lời “lấp liếm”     

Công lý & Xã hội đã đăng bài “Bình Dương: Dân ‘tố’ UBND Tân Uyên không ban hành quyết định nhưng vẫn thu hồi đất, áp dụng sai thời hiệu khiếu nại” số 093 ra ngày 20/11/2020. Theo đó, bà Nguyễn Thị Phương Lan (sinh năm 1951, ngụ tại 29/21 Ngô Gia Tự, phường Chánh Nghĩa, TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương) cho biết, diện tích đất 1.006,25m2 bị UBND huyện Tân Uyên thu hồi mà không được đền bù, ban hành công văn trả lời áp dụng luật không đúng quy định pháp luật.

Bà Lan cho biết, ngày 20/4/1990, UBND huyện Tân Uyên cấp GCN QSDĐ, diện tích 11.800m2cho bà tại ấp Long Hội, xã Tân Phước Khánh. Nằm giữa đất là đường đất (đường xe bò) nối từ ngã tư Miếu Ông Cù đi Khánh Bình.

Năm 1992, bà Lan sang nhượng thêm đất liền kề nên được cấp đổi sổ năm 1990 từ 11.800m2thành 15.079m2. Giữa đất vẫn thể hiện là đường xe bò, đất được cấp tới mép đường, không có hành lang đường bộ và lộ giới.

Năm 1999, địa giới hành chính giữa 2 huyện Thuận An và Tân Uyên, tỉnh Bình Dương được phân định, lấy đường xe bò làm ranh giới, một bên thuộc huyện Tân Uyên quản lý, một bên thuộc thị xã Thuận An quản lý.

hinh-2so-1990-w539-h400.jpg

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Phương Lan được UBND huyện Tân Uyêncấp vào ngày 20/4/1990. Trong khi Quyết định giao đất để làm đường DT 747B là ngày 11/02/1991

Năm 2001, đường đất được Nhà nước nâng cấp và đặt tên đường là DT 747B. Do đó đất của bà Lan bị thu hồi để làm đường bao gồm khu đất do huyện Tân Uyên quản lý và khu đất do thị xã Thuận An quản lý, lấy mỗi bên 17m tính từ mép đường đất và không có bất kỳ quyết định thu hồi đất nào.

Năm 2002, bà Lan nhận tiền đền bù diện tích 481,25m2 (5,5m x 87,5m) cùng với tài sản trên đất. Số đất còn lại 11,5m x 87,5m = 1.006,25m2không được đền bù vì UBND huyện Tân Uyên cho là hành lang lộ giới.

Giữa năm 2012, đường DT 747B tiếp tục được mở rộng, phần đất 1.006,25m2đượctrưng dụng. Bà Lan làm đơn kiến nghị yêu cầu chính quyền huyện Tân Uyên bồi thường.

Ngày 27/5/2013, UBND huyện Tân Uyên có Công văn số 1742/UBND-TD (Công văn1742) trả lời đơn kiến nghị của bà Lan, cho rằng việc thực hiện giải tỏa đền bù là đúng theo các quy định tại thời điểm năm 2001 – 2002 (Căn cứ theo Quyết định số 30/2001/QĐ.UB (Quyết định 30) ngày 22/3/2001). Do vậy, khiếu nại của bà Lan là không có cơ sở để giải quyết.

Không đồng ý với nội dung trả lời trên, bà Lan tiếp tục kiến nghịđến UBND huyện Tân Uyên và huyện Thuận An nhưng không có bất kỳ kết quả trả lời nào.

Mãi 6 năm sau, ngày 05/4/2019, UBND thị xã Tân Uyên mới ban hành Công văn 1146/UBND-BTCD trả lời, cho rằngCông văn 1742 là đúng theo qui định pháp luật nên giữ nguyên nội dung trả lời. Bà Lan tiếp tục khiếu nại, ngày 23/7/2019 UBND thị xã Tân Uyên ban hành Thông báo 527/TB-UBND không thụ lý đơn với lý do hết thời hiệu khiếu nại.

Liệu áp dụng quyết định có sau để bác yêu cầu bồi thường có đúng luật?

Theo Công văn 1742 nêu, phạm vi thực hiện giải tỏa đền bù là 17m tính từ mép đường hiện hữu. Trong đó đất hành lang lộ giới là 11,5m tính từ mép đường không đền bù (căn cứ theo Quyết định số 30/2001/QĐ.UB ngày 22/3/2001 của UBND tỉnh Bình Dương về việc Ban hành qui định về đơn giá đền bù, trợ cấp thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với công trình cải tạo, nâng cấp đường giao thông đoạn Miếu Ông Cù – Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Còn lại đền bù 5,5m đất và tài sản trên đất bị ảnh hưởng.

Cũng theo Công văn 1742, Ban Quản lý dự án huyện Tân Uyên (thay mặt UBND huyện Tân Uyên) đã thực hiện chi trả tiền đền bù cho hộ bà Nguyễn Thị Phương Lan tại phiếu chi ngày 07/01/2002 và việc thực hiện giải tỏa đền bù là hoàn toàn đúng theo các quy định tại thời điểm năm 2001 – 2002. Do vậy kiến nghị của bà Lan là không có cơ sở để giải quyết.

hinh-4quyet-dinh-30-w539-h400.jpg

Quyết định số 30/2001/QĐ-UBND ngày 22/3/2001 ban hành đơn giá đền bù, trợ cấp thiệt hại về đất đoạn Miếu Ông Cù – Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Như vậy, theo nội dung của Công văn 1742 áp dụng Quyết định 30 để cho rằng việc kiến nghị của bà Lan không có cơ sở giải quyết có đúng pháp luật?

Tại mục A.I.1 của Quyết định 30 nêu, đất có GCN QSDĐ, Quyết định giao đất: xác định hành lang bảo vệ đường bộ (HLBVĐB) tại thời điểm giao đất theo Quyết định số 51/QĐ-UB ngày 11/02/1991 và Quyết định số 416/QĐ-UB ngày 06/11/1995 về việc quy định bảo vệ đường bộ của UBND tỉnh Bình Dương về việc điều chỉnh và qui định chỉ giới đường đỏ - chỉ giới xây dựng tại các thị trấn thuộc huyện Thuận An. Quyết định 136/1998/NĐ-CT ngày 24/4/1998 của UBND tỉnh Bình Dương.

Như vậy, rõ ràng theo mục A.I.1 của Quyết định 30 thì Quyết định giao đất là ngày 11/02/1991 và Quyết định qui định bảo vệ đường bộ của UBND tỉnh Sông Bé ngày 06/11/1995 trong khi GCN QSDĐ của bà Lan được cấp ngày 20/4/1990.

Qua đó, không lẽ chính quyền huyện Tân Uyên “không để ý” tới Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để rồi “lấp liếm”, “ngó lơ” để ban hành Công văn 1742, từ chối việc bồi thường đất của bà Lan nói riêng và của toàn thể người dân có đất bị thu hồi trên trục đường DT 747B nói chung?

Theo Điều 151, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định: Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần VBQPPL được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với VBQPPL của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của HĐND; UBND cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã.

Tuy nhiên VBQPPL được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.

Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định, Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

 

Huỳnh Minh Đức