Thứ Hai, 10/12/2018

Án lệ và sự cần thiết sử dụng án lệ ở Việt Nam (Bài 1): Án lệ trong lịch sử pháp luật Việt Nam

07/2/2017 12:09 UTC+7
Án lệ không phải là vấn đề mới trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Khi tìm hiểu án lệ trong lịch sử pháp luật Việt Nam, người ta hầu như không thấy từ “án lệ” được sử dụng trong lịch sử pháp luật thời kỳ phong kiến...

Thời kỳ thực dân Pháp đặt ách đô hộ ở Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945, án lệ chủ yếu được sử dụng trong đào tạo, giảng dạy luật tại miền Nam Việt Nam. Từ sau năm 1945, từ “án lệ” đã được sử dụng trong văn bản pháp luật, trên các tập san luật học…

Tại Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 442/TTG, ngày 19/1/1955 về việc trừng trị một số tội phạm có nội dung như sau: “… Tới nay, các Tòa án căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của Chính phủ mà xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh. Kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ.

Tuy nhiên án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường….”.

Tại Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng luật lệ có nêu: “2,-Nếu chỉ có luật hình cũ, chưa có sắc lệnh mới, mà xét cần trừng phạt thì cũng không viện dẫn luật hình cũ, Tòa án sẽ căn cứ vào đường lối truy tố xét xử, vào các yêu cầu chung và cụ thể đối với từng sự việc, vào án lệ”.

Tại Chỉ thị số 772-TATC ngày 10/7/1959 của TANDTC về vấn đề đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc và phong kiến, cũng nêu: “Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã ban hành từ trước đến giờ (luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư…) đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, án lệ của các Tòa án, của Tòa án tối cao”.

Thông tư số 92-TC ngày 11/11/1959 của Bộ Tư pháp - TANDTC giải thích và quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các TAND phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng và Vinh, chỉ rõ: “TAND phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các TAND cấp dưới thông qua án lệ của mình”.

Tại Tập san Luật học số 4 năm 1957 ra ngày 15/10/1957 do Hội Luật gia Việt Nam xuất bản có mục “Án lệ: Vấn đề chồng liên đới trả nợ cho vợ” của Nguyễn Xuân Dương. Trong mục này, tác giả Nguyễn Xuân Dương đã chỉ ra đường lối xét xử của TAND Tp. Hà nội xử 4 vụ chồng phải chịu trách nhiệm về việc vợ vay tiền hoặc cầm họ và bắt chồng phải liên đới trả nợ, 2 vụ chồng tự ý nhận trả nợ cho vợ và 1 vụ bác lời thỉnh cầu của nguyên đơn tách chồng ra khỏi vụ kiện; sau đó tác giả nêu những nhận xét của mình trên cơ sở căn cứ vào Sắc lệnh 97 và Hiến pháp 1946, đi đến kết luận theo quan điểm của tác giả thì: “theo pháp lý hiện tại, Tòa án chỉ có thể xử bắt người chồng phải liên đới trả nợ cho người vợ trong những trường hợp món nợ đó có làm lợi cho gia đình, nếu không phải là trường hợp hai người cùng đứng vay hoặc cùng kinh doanh. Để nhận định món nợ đã làm lợi cho gia đình thì phải có những bằng chứng cụ thể rõ rệt”.

Tại Tập san Luật học số 5 năm 1958 ra ngày 15/1/1958 do Hội Luật gia Việt Nam xuất bản có mục “Bình luận án lệ: Hứa mua, hứa bán nhà đất ở thành phố” của Nguyễn Xuân Dương. Trong mục này, tác giả Nguyễn Xuân Dương đã chỉ tình hình các vụ kiện, nêu hai vụ kiện tác giả cho là điển hình về vấn đề này và chỉ ra đường lối xét xử của TAND sơ thẩm Hà Nội và TAND phúc thẩm Hà Nội về vụ Ông Hoàng Văn Khác hứa bán cho ông Nguyễn Đình Nhất nhà số 28 phố Triệu Việt Vương năm 1956. Sau đó tác giả nhận xét rằng TAND sơ thẩm Hà Nội đã chiếu Sắc lệnh ngày 10/10/1945 áp dụng Điều 882 Luật hộ Bắc kỳ cũ xử vụ kiện này là không đúng. TAND phúc thẩm Hà Nội đã bác của TAND sơ thẩm, xử bắt ông Khác phải bán nhà cho ông Nhất là đúng lẽ nhưng đã xử bắt bán với giá đã hứa trước, mặc dầu giá nhà trong thành phố đã vọt lên cao và nhận xét: “Theo ý kiến riêng của chúng tôi sau khi nghiên cứu để rút kinh nghiệm về một số vụ án về việc hứa mua hứa bán, chúng tôi thấy rằng gặp những vụ tương tự như vụ ông Nhất kiện ông Khác, nên hòa giải để hai bên có sự tương nhượng nhau, nếu hòa giải không thành mà xử bắt người hứa bán phải hứa bán như đã hứa thì nên đồng thời điều chỉnh lại giá cả”.

Tập san Tư pháp (nay là Tạp chí TAND) số 3 năm 1964, trong mục “Thuật ngữ luật học” có giải thích: “Án lệ là một danh từ cũ đã được dùng từ thời Pháp thuộc. Án lệ là những quy tắc do các Tòa án trong khi vận dụng pháp luật để xét xử các vụ án cụ thể đã hình thành dần dần bằng cách hiểu và có thái độ giải quyết giống nhau một số điểm pháp lý, áp dụng luật một cách giống nhau trong nhiều vụ án”.

Tập san Tư pháp số 1 năm 1965 đã mở mục “Bình luận án lệ”, tòa soạn đã có vài dòng mở đầu: “Từ số này, Tập san Tư pháp sẽ mở thêm mục “Bình luận án lệ” để…”. Tuy nhiên, mục này chỉ thực hiện được 5 số, đến số 6 năm 1965 thì chỉ gọi là “Bình luận án” mà không có sự giải thích nào từ tòa soạn.

Từ việc sử dụng khái niệm “án lệ” nêu trên có thể thấy trước năm 1960, từ “án lệ” đã tồn tại và được sử dụng trong các văn bản pháp luật chính thức, công khai trên các tạp chí chuyên ngành, đường lối xét xử của Tòa án về những vụ việc cùng loại được tập hợp, phân tích, bình luận. Tuy nhiên từ sau năm 1960, khái niệm “án lệ” không thấy được sử dụng, thay vào đó thuật ngữ “luật lệ” được sử dụng nhiều như sách Luật lệ của nước Việt  Nam dân chủ cộng hòa do Viện kiểm sát nhân dân tối cao xuất bản, sách Tập luật lệ tư pháp của Bộ Tư pháp… Từ sau năm 1975 đến trước năm 2006 thì khái niệm án lệ hầu như không được sử dụng chính thức, trong các sách báo pháp lý khái niệm án lệ vẫn được bàn luận nhưng chỉ mang tính chất nghiên cứu học thuật. Khái niệm án lệ hay hệ thống án lệ theo một nghiên cứu mới đây tại Việt Nam như sau: “là chế độ trong đó Thẩm phán tiến hành xét xử không mâu thuẫn với quan điểm pháp lý được thể hiện trong phần xét xử của Tòa án cấp cao nhất của một nước đối với các vụ án tương tự”.

Bạn đang đọc bài viết Án lệ và sự cần thiết sử dụng án lệ ở Việt Nam (Bài 1): Án lệ trong lịch sử pháp luật Việt Nam của Báo điện tử Công lý Xã hội. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglyxahoidientu@gmail.com, Hotline 096.535.2929

Theo congly.vn

Tag :