Thứ Hai, 26/8/2019

Chuyện “Cốc mò cò xơi” tại Vũng Tàu (Kỳ 4): Bản án sai luật, không thể thi hành!

14/8/2019 11:47 UTC+7
(CLXH) - Theo TANDTC, bản án phúc thẩm do Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đưa ra nhiều quyết định trái luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Đình chỉ bản án phúc thẩm

Như Công lý và Xã hội đã thông tin ở những bài viết trước, Bản án phúc thẩm số 2/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên đất và tài sản trên đất thuộc diện tích 2.829,3m2  tại thửa số 49, tờ bản đồ số 47, số 83 Thùy Vân, phường 2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc sở hữu của Công ty Trần Phú.

Trong khi đó, nhiều căn cứ để kết luận tài sản có trên đất tại số 83 Thùy Vân hiện nay không phải do Công ty Trần Phú mà do ông Đặng Hồng - Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Đức Thịnh đầu tư xây dựng từ năm 1992 để kinh doanh dịch vụ khách sạn.

Mới đây, Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 3/2019/KN-KDTM ngày 29/3/2019 đối với Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 02/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Theo đó, căn cứ Điều 326, Khoản 1 Điều 331, Khoản 2 Điều 332, Khoản 1 Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án về “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; kết quả đấu giá cạnh tranh” giữa Công ty Trần Phú và Công ty Đức Thịnh, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ tài sản cố định gắn liền trên diện tích đất 2.829,3m2 tại số 83 Thùy Vân thuộc quyền sở hữu của Công ty Trần Phú và chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết Tòa án hai cấp không thẩm định tại chỗ, không thu thập chứng cứ, không liệt kê rõ các tài sản nào có thể tháo rời được để giao trả cho bị đơn khi xử lý hậu quả của việc chấm dứt giao dịch là vi phạm Điểm đ Khoản 2 Điều 97, Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Phán quyết này tạo nên cách hiểu khác nhau và không thể thi hành án được.

Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giao diện tích đất 2.829,3m2 tại số 83 Thùy Vân cho Công ty Đức Thịnh quản lý, còn Tòa án cấp phúc thẩm tạm giao diện tích đất này cho Công ty Trần Phú quản lý đều là không đúng vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, vi phạm Điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013. Việc tiếp tục cho thuê hay thu hồi diện tích đất này do UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nghị án và ban hành Bản án phúc thẩm số 2/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017, tuy nhiên quyết định sửa chữa, bộ sung bản án nêu trên không đúng với nội dung Biên bản nghị án.

Khu đất 83 Thùy Vân, TP Vũng Tàu

Việc bổ sung nội dung mới, chưa được nhận định, nghị án, quyết định tại bản án và ghi nhận trong biên bản nghị án là vi phạm nghiêm trọng Điều 307, Điều 313, Điều 264 và Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Mặt khác, quyết định sửa chữa, bổ sung này làm thay đổi thực trạng tài sản có trên đất mà cơ quan Thi hành án không thể thi hành, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Với các căn cứ trên, TANDTC quyết định: Kháng nghị đối với Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 2/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 2/2017/KDTM-PT nêu trên và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 18/2016/KDTM-ST ngày 25/11/2016 của TAND thành phố Vũng Tàu; giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

Tạm đình chỉ thi hành Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 2/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.

Bản án trái luật

Phóng viên trao đổi với người dân 

Nhìn vào Quyết định kháng nghị của TANDTC, có thể thấy ngay từ đầu, TAND thành phố Vũng Tàu và TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã làm chưa hết trách nhiệm. Bởi khi xét xử một vụ tranh chấp mặt bằng mà không thẩm định tại chỗ, không thu thập chứng cứ, không liệt kê rõ các tài sản thì căn cứ nào để đưa ra nhận định đúng về bản chất vụ việc?

Theo TANDTC, khi quyết định giao diện tích đất tranh chấp, bản án phúc thẩm đã vi phạm Điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.

Cụ thể, UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức. TAND thành phố Vũng Tàu và TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có quyền giao đất.

Về Quyết định số 14/QĐ-SCBSBA về việc sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm Bản án số 2/2017/KDTM-PT ngày 10/4/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, TANDTC cho rằng vi phạm Điều 307, Điều 313, Điều 264 và Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bởi nội dung được sửa chữa không đúng với Biên bản nghị án. Trong khi các điều luật này quy định: Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm.

Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.

Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan Thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan Thi hành án dân sự.

Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.

Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng.

Như vậy, TAND thành phố Vũng Tàu và TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đưa ra những bản án trái luật, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của doanh nghiệp.

Bạn đang đọc bài viết: Chuyện “Cốc mò cò xơi” tại Vũng Tàu (Kỳ 4): Bản án sai luật, không thể thi hành! của Báo điện tử Công lý Xã hội. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư: banthukyclxh@gmail.com, Hotline 0243.8247204 - 0973.879999

Trường Giang